Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Báo cáo đánh giá tác động của luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của luật quản lí thuế

b. Phương án giải quyết vấn đề
Đề xuất sửa đổi Luật Quản lý thuế: sửa đổi quy định thời gian giải quyết
việc gia hạn nộp hồ sơ khai thuế (khoản 4 Điều 33 về Gia hạn nộp hồ sơ khai
thuế).
c. Đánh giá tác động của các phương án
Thực hiện theo thủ tục này sẽ rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành
chính đối với trường hợp gia hạn nộp hồ sơ khai thuế được 02 ngày (từ 05 ngày
làm việc xuống 03 ngày làm việc). Phù hợp với Nghị quyết số 68/NQ-CP với
mục tiêu chung là giảm thời gian giải quyết các thủ tục hành chính của cơ quan
thuế.
1.3. Xử lý số tiền thuế, tiền phạt nộp thừa
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Nghị quyết số 68/2010/NQ-CP có quy định: sửa đổi tên thủ tục “Xử lý
tiền thuế nộp thừa” - Điều 47 Luật Luật Quản lý thuế thành tên “Xử lý tiền thuế,
tiền phạt nộp thừa”.
Ngoài ra, tại Điều 47 Luật Quản lý thuế có quy định về việc xử lý số tiền
thuế nộp thừa, theo đó có người nộp thuế có quyền đề nghị thực hiện 1 trong 2
phương án: (1) Được trừ vào tiền thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo hoặc
(2) Được trả lại số tiền thuế nộp thừa.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 47 thành tên “Xử lý tiền thuế, tiền
phạt nộp thừa”. Đồng thời sửa đổi thời hiệu xử lý tiền thuế, tiền phạt nộp thừa là
10 năm để đồng bộ với việc sửa đổi thời hiệu truy thu thu thuế tại khoản 3 Điều
110 Luật (dự kiến thời hiệu truy thu là 10 năm).
c. Đánh giá tác động của các phương án
Thực hiện theo thủ tục này sẽ giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho
người nộp thuế đồng thời giảm khối lượng công việc của cơ quan, đơn vị tham
gia vào quy trình phối hợp thu ngân sách nhà nước (Kho bạc, cơ quan tài
chính , ). Tạo thống nhất, bình đẳng giữa Nhà nước và người nộp thuế trong
hoạt động thu tiền thuế thiếu và hoàn tiền thuế thừa.
1.4. Về hồ sơ đề nghị hoàn thuế
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Quy định hiện hành: Luật Quản lý thuế (Khoản 1 Điều 58) hiện đang quy
định hồ sơ hoàn thuế bao gồm: Văn bản yêu cầu hoàn thuế; Chứng từ nộp thuế
và các tài liệu khác liên quan đến yêu cầu hoàn thuế.
5
Việc quy định một số chứng từ, tài liệu trong hồ sơ hoàn thuế đã làm tăng
thêm thủ tục hành chính không cần thiết, đồng thời cũng không thực sự mang lại
hiệu quả cao trong công tác quản lý của cơ quan thuế.
Nghị quyết số 25/NQ-CP yêu cầu: “ Quy định thành phần hồ sơ đối với
trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” chỉ nên bao gồm đơn đề nghị hoàn
thuế và bảng tổng hợp số thuế đề nghị được hoàn theo các tiêu chí do cơ quan
thuế quy định. Loại bỏ 3 loại giấy tờ trong thành phần hồ sơ hoàn thuế của
trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau”, trong đó có “+ Chứng từ nộp
thuế ”. Đồng thời, Nghị quyết số 68/NQ-CP (khoản 48,50,52,54,57,60 phần B
Mục II) có kiến nghị “ Bãi bỏ “Chứng từ nộp thuế” trong thành phần hồ sơ quy
định tại Điều 58 Luật Quản lý thuế.”
b. Phương án giải quyết vấn đề
Đề xuất sửa đổi, bổ sung: Bỏ quy định “chứng từ nộp thuế” tại điểm b
khoản 1 Điều 58 Luật Quản lý thuế; (ii) Bổ sung tại khoản 2 Điều 58 để ghi rõ
số lượng hồ sơ hoàn thuế là 01 bộ.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Thực hiện cơ chế hiện hành có ưu điểm là bao quát được toàn bộ các hồ
sơ liên quan đến yêu cầu hoàn thuế; tuy nhiên với việc yêu cầu như vậy sẽ làm
tăng thời gian, chi phí cho NNT do phải thực hiện các giấy tờ, yêu cầu với số
lượng nhiều.
Khi thực hiện thủ tục theo phương án Luật sửa đổi, bổ sung sẽ giảm được
thủ tục cho NNT; Loại bỏ bớt các chứng từ, tài liệu không cần thiết, không phù
hợp khi gửi hồ sơ cho cơ quan thuế; phát huy và tăng cường năng lực theo dõi,
quản lý của cơ quan thuế vì về nguyên tắc số thuế đã nộp được hạch toán vào tài
khoản thuế và cơ quan thuế có chứng từ và số liệu trong hệ thống dữ liệu quản
lý thuế. Việc sửa đổi này sẽ thúc đẩy cơ quan thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về
người nộp thuế và là một phần của yêu cầu hiện đại hoá quản lý thuế, phù hợp
với yêu cầu thuế điện tử.
1.5. Về thủ tục hoàn thuế
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
- Về thời hạn hoàn thuế, Nghị quyết số 25/NQ-CP yêu cầu: Rút ngắn thời
hạn giải quyết đối với trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” từ 15 ngày làm
việc xuống còn 06 ngày làm việc; trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” từ
60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Về phân loại hồ sơ hoàn thuế: Luật quản lý thuế quy định phân loại hồ sơ
hoàn thuế theo hai diện: (a) Hồ sơ hoàn thuế trước kiểm tra sau; (b) Hồ sơ kiểm
tra trước hoàn thuế sau; và giao Chính phủ quy định cụ thể việc phân loại hồ sơ
6
thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau. Như vậy, toàn bộ các trường hợp còn
lại sẽ thuộc diện kiểm trước, hoàn sau.
Tại Luật Quản lý thuế hiện hành có quy định tiêu thức đối với việc phân
loại hồ sơ hoàn thuế thuộc diện hoàn thuế trước kiểm tra là: NNT có quá trình
chấp hành tốt pháp luật về thuế và các giao dịch được thanh toán qua ngân hàng
thương mại hoặc tổ chức tín dụng khác Tuy nhiên, tiêu chí này cần xác định
phân loại NNT chấp hành tốt pháp luật về thuế phải xây dựng hệ thống tiêu chí
cụ thể hơn để cơ quan thuế thực hiện thống nhất, đảm bảo công khai, minh bạch.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Sửa đổi, bổ sung Điều 60 Luật Quản lý thuế theo hướng (i) Rút ngắn thời
gian hoàn thuế trước kiểm tra sau từ 15 ngày làm việc xuống 06 ngày làm việc;
Giảm thời hạn giải quyết đối với trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau”, từ
60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định; (ii) Chính
phủ quy định cụ thể việc phân loại hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế
sau.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Thực hiện theo thủ tục này sẽ rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường
hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” được 9 ngày (từ 15 ngày làm việc xuống
còn 06 ngày làm việc); Giảm thời hạn giải quyết đối với trường hợp “kiểm tra
trước, hoàn thuế sau” được 20 ngày (từ 60 ngày xuống còn 40 ngày). Cơ quan
thuế đẩy mạnh thực hiện áp dụng phương thức quản lý thuế hiện đại theo
phương pháp quản lý rủi ro (xây dựng và áp dụng việc phân loại hồ sơ hoàn thuế
theo tiêu chí quản lý rủi ro); các tiêu chí xây dựng có thể áp dụng chung cho các
nội dung quản lý thuế một cách phù hợp (ví dụ: hoàn thuế, kiểm tra thuế, thanh
tra thuế ).
Đồng thời theo phương án này đảm bảo phù hợp với yêu cầu Nghị quyết
số 25/NQ-CP nêu trên. Trong thực tế cho thấy khi áp dụng quản lý rủi ro và tạo
thuận lợi hoàn thuế nhanh trên cơ sở kê khai của doanh nghiệp thì các trường
hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau sẽ được giảm dần (sẽ ít hơn các trường hợp
được hoàn thuế trước, kiểm tra). Tuy nhiên, thực hiện theo phương án này sẽ
làm tăng áp lực đáng kể đối với cơ quan thuế do cần phải cải tiến nhiều trong
quy trình xử lý công việc và việc luân chuyển hồ sơ giữa các bộ phận liên quan
trong việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế.
1.6. Hồ sơ xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Luật Quản lý thuế quy định trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì
hồ sơ xoá nợ tiền thuế phải có Tờ khai quyết toán thuế. Trong trình tự xử lý phá
7
sản, cơ quan thuế đã tham gia xác định các khoản nợ thuế và Quyết định tuyên
bố phá sản của Toà án là quyết định có hiệu lực pháp lý.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Dự thảo Luật sửa đổi Khoản 2 Điều 66 theo hướng quy định hồ sơ xoá nợ tiền
thuế, tiền phạt đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản sẽ sử dụng
Quyết định tuyên bố phá sản thay cho tờ khai quyết toán thuế.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Thực hiện theo thủ tục này sẽ giảm được thủ tục hành chính và phù hợp
với quy định của pháp luật phá sản.
II - Các nội dung phục vụ mục tiêu cải cách - hiện đại hoá và hội
nhập, phù hợp thông lệ quốc tế
2.1. Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế để phân loại người
nộp thuế
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Luật quản lý thuế chưa có quy định chung về nguyên tắc quản lý rủi ro để
phân loại người nộp thuế nhằm đưa ra biện pháp quản lý chặt chẽ đối với NNT
có rủi ro cao và có biện pháp ưu tiên đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật
thuế. Những năm gần đây, trên cơ sở cải cách quản lý thuế và hải quan, thực
hiện cơ chế quản lý rủi ro, ngành thuế, ngành hải quan đã áp dụng thí điểm việc
phân loại người nộp thuế để có biện pháp quản lý phù hợp, những người nộp
thuế thực hiện ở những lĩnh vực, địa bàn có độ rủi ro thấp, có lịch sử tuân thủ
pháp luật tốt được ưu tiên trong thực hiện thủ tục hành chính thuế.
Chuẩn mực 3.32 Công ước Kyoto cũng khuyến nghị cơ quan hải quan cần
có biện pháp ưu tiên khi thực hiện thủ tục hải quan đối với các doanh nghiệp có
truyền thống tuân thủ pháp luật và hệ thống sổ sách kinh doanh tốt.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Dự thảo Luật bổ sung thêm hai khoản (khoản 4, 5) vào Điều 4. Nguyên
tắc quản lý thuế để quy định nguyên tắc áp dụng rủi ro trong quản lý thuế và
nguyên tắc quản lý thuế đối với người nộp thuế đáp ứng các tiêu chí xếp hạng
ưu tiên.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Để phù hợp với chuẩn mực quốc tế và kết quả thực hiện thí điểm đã được
người nộp thuế đánh giá cao; có cơ sở pháp lý thực hiện thống nhất nguyên tắc
quản lý rủi ro tạo thuận lợi cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật về thuế.
8
2.2. Bổ sung cơ chế Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá
(APA) trong chống chuyển giá
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài ngày càng đầu tư nhiều vào Việt Nam, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp nộp thuế
không tương xứng với thực tế sản xuất kinh doanh, thậm chí có tình trạng khai lỗ
nhiều năm nhưng vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân chính là
do doanh nghiệp thực hiện chuyển giá.
Để kiểm soát vấn đề này theo nguyên tắc giá thị trường, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp vừa tuân thủ pháp luật tại nước nhận đầu tư và nước xuất khẩu vốn,
các nước phát triển OECD và các nước trong khu vực như: Trung quốc, Thái lan,
Inđônêsia, Malaysia, Singapore… đã cho phép áp dụng Cơ chế thoả thuận trước
về phương pháp xác định giá theo nguyên tắc giá thị trường (APA) giữa cơ quan
thuế và các công ty đa quốc gia. Tại Việt Nam, hiện nay một số nhà đầu tư nước
ngoài (ví dụ Intel, Samsung, ) có kiến nghị Chính phủ cho áp dụng cơ chế APA đối
với các giao dịch trong tập đoàn để xác định thu nhập chịu thuế tại Việt Nam.
APA là biện pháp bổ sung hiệu quả cho quản lý chống chuyển giá bên
cạnh việc thanh tra, kiểm tra. APA thường được xác định trước khi diễn ra giao
dịch giữa các bên liên kết, và là một dạng cam kết từ 3 đến 5 năm của nhà đầu tư
về giá làm cơ sở xác định nghĩa vụ thuế và cơ quan thuế thực hiện vai trò người
giám sát quá trình thực hiện cam kết này.
Trên thực tế, quá trình thanh tra chống chuyển giá thường rất phức tạp
(phải chứng minh được sự bất hợp lý về giá, phải tìm được dữ liệu thông tin
trong, ngoài nước So với việc kiểm tra, thanh tra chống chuyển giá (ít nhiều
mang tính đối kháng), thì việc áp dụng APA sẽ đạt hiệu quả - chi phí, do các bên
cùng hợp tác để đạt thoả thuận chung. APA có các điểm thuận lợi như: Giảm chi
phí tuân thủ thuế, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ chứng từ; Cơ quan thuế chủ động
hơn trong việc hành thu vì APA có sự đảm bảo nhất định về khả năng thu; Tạo
sự chủ động cho doanh nghiệp trong lập kế hoạch kinh doanh và thực hiện nghĩa
vụ thuế.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Để có sở áp dụng APA, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế, theo
hướng bổ sung quy định nguyên tắc cho phép áp dụng cơ chế xác định trước về
thuế vào Điều 9 (Thẩm quyền của cơ quan quản lý thuế), Điều 36 (Nguyên tắc ấn
định thuế) và bổ sung định nghĩa về APA vào Điều 5 (Giải thích từ ngữ).
c. Đánh giá tác động của các phương án
Việc bổ sung, sửa đổi như đề xuất nhằm để chủ động tham gia vào quá
trình hội nhập, nâng cao kỹ năng quản lý trong quá trình cải cách quản lý thuế -
9
hải quan, với mục tiêu tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp đa quốc gia, đồng thời
đảm bảo quyền đánh thuế quốc gia.
2.3. Bổ sung quy định về cơ chế phân loại mã số, xác định trị giá, xác
định xuất xứ hàng hóa trước khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Công ước Kyoto (Việt Nam đã tham gia) khuyến nghị cơ quan Hải quan
cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định
trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục xuất nhập khẩu. Đây
chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động
tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ thuế; giúp cơ quan
hải quan tăng hiệu quả quản lý hành thu; giảm tối đa các trường hợp tranh chấp
giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế,
xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế hiện
hành chưa có quy định về các nội dung này.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung nội dung xác định trước về trị giá tính thuế,
mã số, xuất xứ hàng hóa vào các Điều 6 (Quyền của người nộp thuế), Điều 8
(Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế) và bổ sung các nội dung định nghĩa về
các khái niệm mới này vào Điều 5 (Giải thích từ ngữ).
c. Đánh giá tác động của các phương án
Việc bổ sung quy định nhằm phù hợp với chuẩn mực quốc tế mà Việt
Nam đã tham gia và kết quả thực hiện thí điểm được cộng đồng người nộp thuế
chấp thuận.
2.4. Mở rộng phạm vi thu thập thông tin về người nộp thuế từ nguồn
nước ngoài theo các hiệp định, điều ước đã ký
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Xu hướng hội nhập và mở cửa nền kinh tế đã làm cho các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp ngày càng đa dạng hoá và mở rộng về phạm vi, nên bên
cạnh những kết quả tích cực (là cơ bản) đã phát sinh những mặt tiêu cực, hạn chế
cần có biện pháp phòng, chống hiệu quả (như các biện pháp dàn xếp tránh thuế, giả
mạo doanh nghiệp, đối tác, lừa đảo trong kinh doanh ). Do đó, cơ quan thuế các
nước hiện đang tăng cường công tác trao đổi thông tin trên cơ sở các điều ước quốc
tế để cùng đấu tranh chống gian lận thuế. Thực tế hiện nay, cơ quan thuế Việt Nam
vẫn nhận được các thông tin từ phía nước ngoài nhưng chưa có văn bản quy phạm
pháp luật cho phép sử dụng các thông tin này trong việc xử lý các vấn đề về thuế.
10
b. Phương án giải quyết vấn đề
Đề xuất sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 70 Luật Quản lý thuế: bổ sung nội
dung cho phép cơ quan quản lý thuế được thu thập, trao đổi và sử dụng các thông
tin do các đối tác nước ngoài cung cấp trên cơ sở các điều ước quốc tế.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Việc bổ sung, sửa đổi như đề xuất là phù hợp thông lệ quốc tế, tăng cường
công tác trao thông tin hai chiều trên cơ sở các điều ước quốc tế để cùng đấu
tranh chống gian lận thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế.
III - Các nội dung về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý thuế để
phù hợp với thực tế và các văn bản pháp luật có liên quan
3.1. Về thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Luật Quản lý thuế hiện hành quy định về thời hạn nộp thuế xuất nhập
khẩu, quy định này đã giúp doanh nghiệp có thời gian thu xếp nguồn tiền để nộp
thuế. Tuy nhiên, về hệ quả lại tạo ra một số bất cập: (i) Dễ tạo tâm lý dù có khả
năng thanh toán thuế, doanh nghiệp vẫn dựa vào chính sách của Nhà nước để
chiếm dụng vốn; (ii) Một số doanh nghiệp lợi dụng sự thông thoáng của Luật
Doanh nghiệp để thành lập công ty, lợi dụng chính sách cho nợ thuế của Nhà
nước để chây ỳ nợ thuế, không nộp thuế đúng hạn, sau đó bỏ trốn hoặc tự giải
thể, thất thu ngân sách; (iii) Không đảm bảo công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu
(được nợ thuế) với hàng hoá được sản xuất ở trong nước (không được hưởng ưu
đãi này), từ đó không khuyến khích sử dụng, tiêu dùng hàng nội địa trong bối
cảnh hiện nay Chính phủ đang phát động phong trào ưu tiên dùng hàng Việt và
áp dụng các biện pháp chống nhập siêu.
Việc thực hiện cơ chế bảo lãnh trong thời gian qua (người nộp thuế được
nợ thuế trong thời hạn bảo lãnh, tổ chức nhận bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh
nhưng không ràng buộc trách nhiệm của người nhận bảo lãnh về số tiền thuế
phải nộp nếu hết thời hạn bảo lãnh mà người nộp thuế chưa nộp thuế) vừa không
nâng cao trách nhiệm của tổ chức nhận bảo lãnh, vừa tạo lỗ hổng để người nộp
thuế lợi dụng, chây ỳ, nợ thuế kéo dài không thu hồi được.v.v.
Tham kh o Lu t thu c a các n c trên th gi i v khu v c cho th y:ả ậ ế ủ ướ ế ớ à ự ấ
a s các n c không cho n thu (Thái Lan, Nh t B n, Hoa K , Campuchia,đ ố ướ ợ ế ậ ả ỳ
L o ); ngo i ra m t s n c cho ch m n p thu nh ng ph i có b o lãnhà à ộ ố ướ ậ ộ ế ư ả ả
(nh : Anh), ho c cho n p ch m v i i u ki n có t i kho n do c quan H iư ặ ộ ậ ớ đ ề ệ à ả ơ ả
quan qu n lý m b o vi c n p thu (nh : Newzeland). ả để đả ả ệ ộ ế ư
11
b. Phương án giải quyết vấn đề
Sửa đổi Điều 42 Luật Quản lý thuế theo hướng: người nộp thuế phải nộp
thuế trước thời điểm thông quan và chỉ áp dụng ân hạn khi có bảo lãnh. Trường
hợp có bảo lãnh thì được thông quan nhưng phải trả lãi chậm nộp 0,05%/ngày
bảo lãnh. Thời hạn bảo lãnh thực hiện theo quy định của Chính phủ.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Việc sửa đổi, bổ sung Luật không gia tăng, ảnh hưởng đến thực hiện thủ
tục của người nộp thuế mà bên cạnh đó có tác dụng tăng cường biện pháp quản
lý thuế, hướng doanh nghiệp đến việc tuân thủ quy định về việc chấp hành pháp
luật về thuế (không chây ỳ, dây dưa nợ thuế), giảm chi phí quản lý. Đảm bảo
công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu (được nợ thuế) với hàng hoá được sản xuất
ở trong nước (không được hưởng ưu đãi này). Đồng thời phù hợp với thông lệ
quốc tế.
3.2. Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Điều 45 Luật Quản lý thuế quy định thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt
như sau: Tiền thuế nợ, tiền thuế truy thu, tiền thuế phát sinh, tiền phạt.
Theo quy định tại Điều 92 Luật Quản lý thuế, nếu người nộp thuế có nợ
thuế, nợ phạt quá hạn 90 ngày thì bị cưỡng chế.
Do vậy, trong thực tế quản lý hải quan trong tiền thuế nợ có nợ quá hạn
90 ngày, quá hạn nhưng chưa quá 90 ngày; trong tiền thuế truy thu cũng có loại
nợ quá hạn 90 ngày, quá hạn nhưng chưa qúa 90 ngày. Để nâng cao hiệu quả
quản lý nợ, kinh nghiệm các nước và thực tế cho thấy cần phải thực hiện thu hồi
trước những khoản nợ quá hạn cưỡng chế, nhằm giảm nợ xấu và giảm thiểu các
vụ việc phải cưỡng chế.
b. Phương án giải quyết vấn đề
Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 45 Luật Quản lý thuế theo hướng tách riêng
việc thanh toán tiền thuế do cơ quan thuế quản lý và cơ quan hải quan quản lý.
Đối với các loại thuế do cơ quan hải quan quản lý ưu tiên thu tiền thuế nợ trước
đối với các trường đến hạn cưỡng chế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Việc bổ sung quy định như phương án nêu trên nhằm đảm bảo phù hợp
với công tác quản lý thuế của cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế.
3.3. Gia hạn nộp thuế
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Điều 49 Luật quản lý thuế quy định các trường hợp được gia hạn nộp
thuế: “1. Bị thiệt hại vật chất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh
12
do gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ; 2. Không có khả năng nộp thuế đúng
hạn do gặp khó khăn đặc biệt khác theo quy định của Chính phủ”.
Nghị định số 85/2007/NĐ-CP và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP hướng
dẫn thi hành Luật quản lý thuế có quy định chi tiết thêm các trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên Nghị định 106/2010/NĐ-CP mới được thực hiện, chưa có
nhiều trường hợp phát sinh và chủ yếu vẫn đang quy định về các trường hợp
được gia hạn nộp thuế do những nguyên nhân từ tình hình kinh tế xã hội trong
giai đoạn hiện nay (ví dụ di chuyển địa điểm kinh doanh theo yêu cầu của nhà
nước, thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà đất được Nhà nước
giao đất hoặc đấu giá quyền sử dụng đất, cho thuê đất nhưng chưa giải phóng
được mặt bằng, chưa bàn giao đất dẫn đến không có nguồn nộp ngân sách nhà
nước ).
b. Phương án giải quyết vấn đề
Luật hoá một trường hợp được gia hạn nộp thuế vào Điều 49 như sau:
trường hợp doanh nghiệp phải di dời cơ sở sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của
Nhà nước; doanh nghiệp có số tiền thuế nợ do nguyên nhân chưa được thanh
toán vốn theo chế độ quy định từ nguồn nhà nước.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Áp dụng theo phương án trên đảm bảo quy định tại Nghị định có tính chất
ổn định lâu dài và phổ biến được tổng kết từ thực tiễn để Luật hoá.
3.4. Bổ sung quy định phân kỳ nộp thuế đối với trường hợp người
nộp thuế bị truy thu thuế theo kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Qua thực tế công tác kiểm tra, thanh tra cho thấy có nhiều trường hợp
doanh nghiệp bị truy thu hoặc thu hồi hoàn thuế với giá trị lớn (đặc biệt trong
các trường hợp bị phạt từ một đến ba lần tiền thuế). Nếu phải nộp một lần,
doanh nghiệp có thể gặp khó khăn về tài chính do không có nguồn dự phòng
khoản truy thu đột xuất, dẫn đến bị xếp vào loại chây ỳ, bị cưỡng chế thuế, trong
khi các doanh nghiệp này vẫn đang hoạt động và có khả năng thanh toán nếu
được phép nộp dần tiền thuế truy thu trong một thời gian nhất định.
Nhiều nước thường cho áp dụng cơ chế nộp thuế làm nhiều lần, có tính lãi
trong thời gian tối đa 12 tháng, trước khi thực hiện việc cưỡng chế thuế, để tạo
điều kiện cho người nộp thuế chủ động thực hiện giải quyết nợ đọng (ví dụ
Malaysia: lãi nộp chậm là 10%-15%; Singapore: mức lãi chậm nộp là 5%-12%;
Trung quốc: mức lãi chậm nộp cơ bản là 5,35%, chây ỳ quá 1 tháng tăng
1%/tháng).
13
b. Phương án giải quyết vấn đề
Dự thảo Luật bổ sung Khoản 2a Điếu 42 (Thời hạn nộp thuế) để cho phép
người nộp thuế được nộp dần tiền thuế trong thời hạn 12 tháng nhưng vẫn tính
lãi chậm nộp tiền thuế đối với số thuế mà người nộp thuế bị truy thu vượt quá
khả năng nộp đủ thuế một lần, trên cơ sở cam kết của người nộp thuế và phải có
bảo lãnh của ngân hàng thương mại.
c. Đánh giá tác động của các phương án
Việc bổ sung quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tế quản
lý nợ thuế một mặt sẽ vẫn đảm bảo số thu vào ngân sách; mặt khác sẽ giảm bớt
khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động sản xuất
kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ thuế và hạn chế tối đa các trường hợp bị cưỡng
chế thuế nhưng vẫn tạo điều kiện doanh nghiệp chấp hành nghĩa vụ nộp thuế.
3.5. Về xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
a. Vấn đề bất cập/mục tiêu giải quyết vấn đề
Tại Điều 65 Luật Quản lý thuế có quy định các trường hợp được xoá nợ
thuế là doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo
quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt
và cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự
mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ.
Trên thực tế, việc thực hiện xóa nợ mới xử lý được rất ít trong tổng số tiền
nợ khó thu, vẫn còn rất nhiều trường hợp treo nợ mặc dù không còn đối tượng
để thu hồi nợ, đặc biệt là các khoản nợ tồn đọng trước ngày 1/7/2007 (thời điểm
Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành). Nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ
khó thu là do thay đổi chính sách (nợ thuế của doanh nghiệp Nhà nước chuyển
sang Công ty cổ phần nhưng không bàn giao số thuế nợ, nợ thuế của doanh
nghiệp Nhà nước đã có Quyết định giải thể của cơ quan có thẩm quyền… ), nợ
không còn đối tượng để thu, người nộp thuế không có khả năng nộp thuế, mặc
dù cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quá 10 năm,
nhưng vẫn không có khả năng thu hồi (ví dụ: người nộp thuế bỏ địa bàn kinh
doanh, bỏ trốn hoặc đang chịu trách nhiệm hình sự, doanh nghiệp đã giải thể,
phá sản, sáp nhập, hộ nghề cá bị thiên tai dẫn đến tài sản thế chấp bị phát mại
không còn khả năng nộp thuế ). Đây là vấn đề tồn đọng và trở thành gánh nặng
của ngành thuế và ngành hải quan do các khoản nợ tồn đọng này khá lớn và rất
khó có thể thu hồi .
Tại Báo cáo Kết quả giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về
quản lý thuế, Uỷ ban tài chính Ngân sách Quốc hội đề nghị bổ sung quy định về
cách thức xử lý tiền nợ thuế, tiền phạt đối với trường hợp không xác định được
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét