CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về RNM Cần Giờ TP Hồ Chí Minh
Huyện Cần Giờ tiếp cận với biển Đơng hiện hữu một khu RNM đan xen với hệ thống sơng
rạch dày đặc chứa đựng các HST mang tính đa dạng sinh học cao với nhiều lồi động thực vật đặc
hữu của miền dun hải Việt Nam. Đó là khu RNM Cần Giờ nằm gọn trong địa giới huyện Cần
Giờ và rừng Sác huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai
Khu dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu sơng Đồng Nai – Sài Gòn
nằm ở cửa ngõ Đơng Nam thành phố Hồ Chí Minh. Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam giáp
biển Đơng, phía Tây giáp tỉnh Tiền Giang và Long An, phía Đơng giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tổng diện tích Khu dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó, vùng lõi 4.721 ha,
vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha.
RNM Cần Giờ
giới hạn bởi các đoạn sơng, rạch, tắc như sơng Sồi Rạp, sơng Vàm Sát, rạch
Đơn, tắc An Nghĩa, sơng Lòng tàu, tắc Rổi, sơng Đồng Tranh, tắc Nước Hội, sơng Thị Vải, sơng
Gò Gia , sơng Cái Mép và biển Đơng, từ bắc xuống Nam dài 28km, từ Đơng sang Tây dài 30km.
Thổ nhưỡng phát triển trên một đầm mặn mới, do phù sa sơng Sài Gòn và sơng Đồng Nai
mang đến và lắng đọng tạo thành nền đất. Đất Cần Giờ được cấu tạo bởi q trình trầm tích sét, q
trình phèn hố và q trình nhiễm mặn.
Khí hậu Cần Giờ nóng ẩm và chịu chi phối của qui luật gió mùa cận xích đạo với hai mùa
mưa nắng rõ rệt.
Lượng mưa: thấp nhất TP. Hồ Chí Minh, trung bình 1300 – 1400mm/năm, mùa mưa thường
bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa thường tập trung vào tháng 6 và tháng 9.
[35]
- Chế độ nhiệt: Biên độ nhiệt trong ngày từ 5 – 7
0
C, nhiệt độ trung bình 25,8
0
C, nhiệt độ thấp
tuyệt đối 18,8
0
C, nhiệt độ cao tuyệt đối 35
0
C
[35].
- Độ ẩm khơng khí: cao hơn các nơi khác trong TP. Hồ Chí Minh. Mùa mưa độ ẩm từ 79 –
83%, mùa khơ độ ẩm từ 74 – 77%, ẩm nhất vào tháng 9, khơ nhất vào tháng 4
[36].
- Chế độ thuỷ triều: chế độ bán nhật triều khơng đều, hai lần nước lớn và hai lần nước ròng
trong ngày. Các tháng có đỉnh triều cực đại là tháng 10 và tháng 11, đỉnh triều thấp nhất là tháng 4
và tháng 5
[36].
- Độ mặn:
trung bình từ 1,5 – 2,5% , tùy theo khu vực có thể lên đến 18% lớn nhất khi triều
cường và nhỏ nhất khi triều kém. Nước mặn xâm nhập sâu vào tháng 4 và bị đẩy xa vào tháng 9 và
tháng 10 [13].
* Khu hệ thực vật
Khu dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ có trên 150 lồi TV, các lồi chủ yếu như bần trắng,
mấm trắng, các quần hợp đước đơi - bần trắng cùng sú, ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ
như bần chua, các quần hợp mái dầm – ơ rơ, dừa lá, ráng v.v… Thảm cỏ biển với các lồi ưu thế
Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất canh tác nơng nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại
đậu, dừa và các vườn cây ăn trái [34].
* Khu hệ động vật
Theo khảo sát sơ bộ của dự án khả thi khu bảo tồn tự nhiên RNM Cần Giờ năm 1999 cho
thấy:
+ Khu hệ ĐV thuỷ sinh khơng xương sống trên cạn có 9 lồi lưỡng thê, 31 lồi bò sát, 4 lồi
có vú. Trong đó có 11 lồi bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc kè (gekko gekko), kỳ đà
nước (varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus), rắn cạp nong
(bungarus fasciatus), rắn hổ mang (naja naja), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), vích (chelonia
mydas), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus)…
[34].
+ Khu hệ chim có khoảng 130 lồi thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 lồi chim nước và 79
lồi khơng phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau [35].
Phân vùng khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ: Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển RNM Cần
Giờ là 75.740 ha, trong đó vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha và vùng chuyển tiếp 29.880 ha
[35] .
* Khu hệ VSV
- Vi khuẩn
VK cùng với nấm tạo nên một thành phần quan trọng trong hệ sinh thái RNM. Là những SV
phân huỷ, chúng đóng vai trò trung tâm về mặt chức năng trong HST này. Số lượng VK trong RNM
chiếm tỉ lệ khá cao, đặc biệt là trong trầm tích các quần thể VK dị dưỡng nhiều gấp 2-3 lần lớp nước
trên mặt, các quần thể trên nền bùn lớn gấp vài lần trên nền cát [34]. Nhiều lồi sống trên các giá thể
bề mặt rắn bằng chất nhầy dính bám. Do đó, VK có thể tạo nên một bề mặt mỏng trên mặt bùn tạo
điều kiện cho các lồi tảo, cỏ biển và cây ngập mặn phát triển.
- Nấm
Khu hệ nấm trong RNM nhiều và rất đa dạng. Phần lớn là vi nấm, chỉ có một số lồi có kích
thước lớn. Nấm đóng vai trò quan trọng trong RNM, cùng với VK chúng góp phần phân huỷ nhanh
xác lá TV (Fell và cộng sự 1975). Người ta có thể phân loại nấm dựa trên mơi trường RNM: trên tán
cây, trên thân, rễ hơ hấp và trong đất, nhưng cũng có một số lồi có thể sống được từ hai MT trở lên
[33].
Nấm đóng một vai trò rất quan trọng trong HST bởi vì NS tham gia các chu trình sinh địa hóa
ở nhiều lưới thức ăn. Khi sống hoại sinh hay cộng sinh, chúng phân hủy những vật chất hữu cơ
thành những phân tử vơ cơ, rồi sau đó những chất này sẽ được đồng hóa ở TV hay những SV khác
[46].
Bản thân NS từ RNM cũng trở thành nguồn thức ăn giàu đạm cho nhiều lồi ĐV nhỏ và ấu
trùng của một số lồi (Odum, 1980; Alongi, 1989).
VSV ở RNM ngồi VK và NS còn có nấm men, xạ khuẩn,… chúng đóng vai trò hết sức quan
trọng đối với chu trình tuần hồn vật chất trong hệ sinh thái nơi này. Chúng tham gia bảo vệ MT
sinh thái RNM nói riêng và MT sinh thái nói chung, cũng như vai trò to lớn trong mối quan hệ sinh
học giữa các lồi SV. Từ đó, đóng góp vào việc giữ cân bằng cho HST đặc biệt này.
Vai trò của RNM
Một số lồi TV ở RNM có thể xếp vào nhóm cơng dụng chủ yếu: 30 lồi cây cho gỗ, than, củi,
14 lồi cây cho tannin, 24 lồi cây làm phân xanh, 21 lồi cây dùng làm thuốc, 9 lồi cây chủ thả
kiến cánh đỏ, 21 lồi cây cho mật ni ong, 1 lồi cây cho nhựa để sản xuất nước giải khát [2].
Ngồi ra, RNM còn có nguồn tài ngun ĐV phong phú như 9 lồi lưỡng cư, 22 lồi bò sát, 67
lồi chim, 21 lồi thú,… Các SV ở nước rất phong phú gồm 64 lồi cá thuộc 35 họ, 25 lồi tơm, 66
lồi TV phiêu sinh, 26 lồi ĐV phiêu sinh và 22 lồi ĐV đáy [2] .
Ngồi ra các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái RNM đã phát hiện
trong đất RNM có vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) và chủng NS Paecilomyces farinosUIs. Các
loại vi sinh vật này tạo được protein tinh thể độc, có khả năng tiêu diệt một số lồi cơn trùng gây hại
cho người và động thực vật như các lồi sâu róm, sâu tơ, bọ nẹt, ấu trùng muỗi sốt rét Anopheles
minimus, muỗi gây sốt xuất huyết Aedes aegypti và muỗi Culex quinquefasciatus gây bệnh chân voi.
Bên cạnh các giá trị về lâm sản như than, gỗ, củi, thức ăn, thuốc… RNM còn đóng vai trò
quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói lở và q trình xâm
thực bờ biển.
RNM
cung cấp chất hữu cơ để tăng năng suất cho vùng ven biển, là nơi sinh sản hoặc
ươm ni của nhiều lồi hải sản có giá trị kinh tế cao như tơm, cua, cá,…
Mặt khác, RNM còn có tác dụng làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nước triều, làm giảm
mạnh độ cao của sóng khi triều cường. Hạn chế tác hại của sóng thần và bão lớn, hạn chế xâm nhập
mặn và bảo vệ nước ngầm. RNM bảo vệ đa dạng sinh học, điều chỉnh nồng độ muối của MT, làm
sạch MT nước khi có lũ lụt, lũ qt, sạt lở đất [4][18].
1.2 Sơ lược về NS RNM Cần Giờ
1.2.1 Vị trí phân loại.
Theo G.C.Ainsworth (1973): Hệ thống của giới nấm bao gồm hai ngành: Myxomycota và
Eumycota. Eumycota bao gồm 5 ngành phụ: Mastigomycotina, Deuteromycotina, Zygomycotina,
Ascomycotina và Basidiomycotina [41]
Ngành phụ Deuteromycotina được chia
theo 3 lớp: [42
]
+ Blastomycetes: Khuẩn ty khơng phát triển hoặc phát triển yếu; dạng cơ thể giống như nấm
men và có sự nảy chồi.
+ Hyphomycetes: Khuẩn ty thật, khơng nảy chồi; sợi nấm bất dục hoặc sinh BT trên cuống,
khơng có sự tập trung thành túi BT hay cụm cuống BT.
+ Coelomycetes: Khuẩn ty thật, BT tập trung trong túi BT hoặc trên cụm cuống BT:
Lớp Hyphomycetes được chia thành 3 bộ: Moniliales, Melanconiales và Sphaeropsidales.
Theo C. J. Alexopoulos (2002), nấm có 3 phần trong giới nấm, giới Stramenopila (một giới
mới bao gồm các SV có cấu trúc lơng roi được tách ra từ protista) và giới Protista. Giới nấm có 4
ngành: Chytridiomycota, Zygomycota, Ascomycota, Basidiomycota. Phần của nấm trong giới
Stramenopila có 3 ngành: Oomycota, Hyphochytriomycota, Labryrinthulomycota. Bốn ngành khác
của nấm được xem như là các SV ngun sinh trong giới protista: Plasmodiomycota,
Dictyosteliomycota, Acrasiomycota, Myxomycota. Lý do của sự phân chia này là từ những bằng
chứng mới của các nghiên cứu về rRNA và hố sinh học. Các bằng chứng chứng minh sự tồn tại của
3 nhóm nấm khác nhau. Gần đây, sau khi hệ thống phân loại giới xuất hiện, giới nấm được tái cấu
trúc và sắp xếp lại. Tất cả các phần trong các giới khác nhau được tập hợp lại chỉ trong một giới
nấm. Các nhà nấm học phân chia giới này thành hai phần: nấm giả, bao gồm 7 ngành: Oomycota,
Hyphochytridiomycota, Labyrinthulomycota, Plasmodiophoromycota, Dictyosteliomycota,
Acrasiomycota và Myxomycota và nấm thật là những phần còn lại [43].
1.2.2 Hình thái, cấu trúc
Các nấm bậc thấp thường có sợi nấm khơng vách ngăn. Ngược lại, các nấm bậc cao thường
mang sợi nấm có vách. Sợi nấm khơng vách ngăn mang nhiều nhân nhưng vẫn có thể gọi là đơn
bào. Ở các nấm khơng vách ngăn thì vách ngăn vẫn có thể hình thành khi cơ thể sinh sản hoặc tại
các bộ phận sợi nấm bị thương tổn. Đó là loại vách ngăn liền, khơng có lỗ thủng, có tác dụng bảo vệ
cơ thể [5].
Sợi nấm có vách ngăn là cơ thể đa bào. Mỗi tế bào có 1 nhân hoặc nhiều nhân. Tuy nhiên, sợi
nấm vẫn khơng phải do nhiều tế bào hợp thành mà là do các vách ngăn tách sợi nấm ra thành nhiều
tế bào.
Vách ngăn ngang được hình thành từ thành tế bào. Lúc đầu là một gờ nhỏ hình khun sao
đó tiến dần vào trong và lấp kín lại. Tuy nhiên, vách ngăn thường có một hay nhiều lỗ thủng. Các lỗ
có kích thước bằng nhau hay có một lỗ lớn nhất ở giữa và nhiều lỗ nhỏ ở xung quanh.
Sợi nấm (hypha) có dạng hình ống phân nhánh, bên trong chứa chất ngun sinh có thể
chuyển động, đường kính 1-30µm (thơng thường là 5-10 µm).
Đỉnh sợi nấm có hình chóp nón khơng tăng trưởng, có tác dụng bảo vệ phần ngọn của sợi
nấm. Phần này chất ngun sinh khơng có nhân và chứa ít cơ quan tử. Tiếp đến là phần tăng trưởng
chứa nhiều nhân, nhiều cơ quan tử và nhiều enzym. Đây là phần quyết định sự tăng trưởng và phân
nhánh của sợi nấm. Dưới nữa là phần thành cứng - phần thành thục của sợi nấm. Bắt đầu từ phần
này trở xuống là chấm dứt sự tăng trưởng của sợi nấm [4] [44].
Nhân tế bào được bao bọc bởi màng nhân, trên màng nhân có nhiều lỗ nhỏ, trong nhân có
hạch nhân (nucleolus). Trong tế bào nấm còn có ty thể (mitochondrion), mạng nội chất
(endoplasmic reticulum), dịch bào hay khơng bào (vacuolus), ribosome, bào nang (vesicle), thể
golgi [4], các giọt lipid, các tinh thể (chrystal) và các vi thể đường kính 0,5-1,5 nm (microbody), các
thể vơrơnin đường kính 0,2µm (Woronin body), thể chitơ đường kính 40-70 nm (chitosome)…
Ngồi ra trong tế bào chất còn có các vi quản rỗng ruột, đường kính 25 nm (microtubule), các vi sợi
đường kính 5-8 nm (microfilament), các thể màng biên (plasmalemmasome)
Hình 1.1: Sợi nấm có vách ngăn và sợi nấm khơng có vách ngăn
Ribosome của nấm thuộc loại 80S đường kính khoảng 20-25nm, gồm 2 tiểu phần: tiểu phần
lớn 60S và tiểu phần nhỏ 40S
[45]
Phần lớn sợi nấm có dạng trong suốt, ở một số nấm có sợi mang sắc tố tạo nên màu tối hay
màu sặc sỡ. Sắc tố của một số nấm còn tiết ra ngồi MT và làm đổi màu khu vực có nấm phát triển.
Một số nấm còn tiết ra các chất hữu cơ tạo nên các tinh thể trên bề mặt KL. Vì BT của nấm thường
cũng có màu nên cả KL thường có màu.
Ngồi những đặc điểm chung thì NS từ RNM còn có những đặc trưng riêng đáng được quan
tâm và cần có nhiều cơng trình nghiên cứu hơn nữa trên những đối tượng này bởi các lý do sau:
Ở MT sống khắc nghiệt, kiểu trao đổi chất của chúng sẽ khác biệt hơn so với các nấm ở đất
liền. Do đó, các sản phẩm trao đổi chất, đặc biệt là chất KS cũng mang tính chất khác lạ hơn [14].
Điều kiện MT khắc nghiệt mang tính cạnh tranh cao làm tăng khả năng thích nghi của NS từ
RNM. Do đó, phần lớn các NS từ RNM đều có khả năng sinh ra các hợp chất có hoạt tính sinh học
nhằm giúp chúng thích ứng với điều kiện sống. Điển hình là khả năng sinh nhiều loại enzym, nhất là
các enzym ngoại bào có chức năng phân giải xác động thực vật là thành phần hữu cơ chính của
RNM, các chất KS và các độc tố giúp làm tăng khả năng đối kháng của NS trong q trình cạnh
tranh ở MT sống. Gần đây, người ta phát hiện ra nấm biển và NS ở RNM là nguồn VSV có tiềm
năng sinh các chất KS mới, chống lại các VSV nhờn thuốc.
Sống trong MT biến động, MT chịu ảnh hưởng của chất thải từ đất liền, ơ nhiễm do tràn
dầu…đã tạo cho các nấm sợi RNM có những cơ chế phản ứng lại với những tác động này bằng khả
năng sinh tổng hợp được hệ enzym phân giải các chất độc hại.
RNM là một HST chịu nhiều tác động của gió bão. Sau những tác động trên, vấn đề ơ nhiễm
là điều khơng thể tránh khỏi, nhất là ơ nhiễm VSV gây bệnh [13]. Nhờ có những đặc tính sinh học
(a) Cấu tạo của phần ngọn sợi nấm
Hình 1.2: Cấu tạo phần ngọn và cấu trúc của sợi
(b) Cấu trúc của sợi nấm
Vách tế bào
Màng tế bào
Nhân
Thể
golgi
Khơng bào
Ti thể
Luới
nội chất
Nhân
đáng q như khả năng sinh ra các sản phẩm giúp khống chế VSV có hại mà NS có thể cải thiện MT
sống cũng như giúp con người nâng cao khả năng điều trị bệnh tật.
Đa số các NS từ RNM đều có khả năng chịu mặn cao. Chúng có thể sinh trưởng ở nồng độ
muối từ 1,5 % - 2,5%. Thậm chí, một số nấm sợi RNM còn có thể sinh trưởng ở nồng độ muối 30%
[13]. Đây là một đặc điểm rất có ý nghĩa sinh thái đối với RNM.
Tóm lại, NS ở RNM có những đặc tính sinh học rất đáng q cần được khai thác nhằm phục
vụ nhu cầu và lợi ích của con người. Tuy nhiên, những nghiên cứu về NS RNM còn rất khiêm tốn,
chưa tương xứng với qui mơ và tiềm năng của chúng,
1.2.3 Sinh sản của NS
Nói chung, NS sinh sản dưới 2 hình thức: vơ tính và hữu tính
Sinh sản vơ tính
NS sinh sản vơ tính thể hiện qua 2 dạng: sinh sản dinh dưỡng bằng đoạn sợi nấm phát triển
dài ra hoặc phân nhánh và sinh sản bằng các loại bào tử.
Bào tử kín: được tạo thành từ đỉnh một sợi nấm được phân hóa làm nhiệm vụ sinh sản.
Bào tử trần: là loại bào tử vơ tính thường gặp nhất ở nấm. Chúng có hình dạng, kích thước,
kết cấu hết sức phong phú. Tế bào sinh bào tử trần gọi là giá (hay cuống) bào tử trần (conidiophore).
Hình 1.3 Bào tử kín (a) và bào tử trần ( b) của NS
Sinh sản hữu tính
Xảy ra khi có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái (gametes) có trải qua giai đoạn giảm phân.
Q trình sinh sản hữu tính trải qua 3 giai đoạn:
Tiếp hợp tế bào chất (plasmogamy) với sự hòa hợp 2 tế bào trần (protoplast) của 2 giao tử
Tiếp hợp nhân (karyogamy) với sự hòa hợp 2 nhân của 2 tế bào giao tử để tạo một nhân nhị
bội (diploid)
Giảm phân (meiosis) giai đoạn này hình thành 4 bào tử đơn bội (haploid) qua sự giảm phân
từ 2n NST (nhị bội) thành n NST (đơn bội).
a
b b
b
Hình 1.4: Sự tiếp hợp của NS
1.2.4 Vai trò của NS
NS được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm nhiều do khả năng sinh các chất có họat
tính sinh học được ứng dụng rộng rãi, lợi ích kinh tế cao như: nguồn enzym, các chất kháng sinh,
các axit hữu cơ, các chất có khả năng phân giải nguồn cacbonhydrat [5],[9].
Họat tính enzym thủy phân ngoại bào.
Enzym là những protein có khả năng xúc tác cho các phản ứng hóa học trong và ngồi cơ
thể [22]. Đến nay, các nhà khoa học đã tìm được khoảng 3.500 loại enzym, trong đó phần lớn là
enzym từ thực vật và VSV. NS có tiềm năng lớn nhất sinh các lọai enzym ngoại bào mạnh, phân
giải và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ, vơ cơ khó tan trong tự nhiên. Một số enzym đã được tinh
sạch, nghiên cứu kỹ và ứng dụng phổ biến như: xellulase, protease, amylase, pectinase và kinase
[5].
Enzym cellulase: Cellulase là một nhóm nhiều enzym xellulase C
1
( endo cellulase),
cellulase C
x
(exoxellulase) và xellobiaza có tác dụng thủy phân cellulose tạo thành glucose. Các
VSV có hoạt tính cellulase cao là các lồi vi khuẩn, xạ khuẩn chịu nhiệt và NS. Trong đó, các
chủng NS thuộc chi Trichoderma, Penicillium, Aspergillus,….có khả năng sinh enzym cellulase
được sử dụng trong chăn ni để nâng cao sự tiêu hóa cellulose ở động vật. Ngồi ra chúng còn
được dùng trong sản xuất glucose từ bã và sản phẩm thải ở của cơng nghiệp rừng, làm phân bón,
xử lí rác thải[17],[18].
Enzym protease: Protease là nhóm enzym thủy phân protein thành peptit và axit amin
bằng cách cắt đứt các liên kết peptid. Protease gồm có proteinaza và peptidaza chúng có tính đặc
hiệu tương đối rộng. Protease NS có khoảng pH hoạt động rộng hơn so với protease động vật và vi
khuẩn, người ta chia protease NS thành ba nhóm: protease axit, protease kiềm và protease trung
tính. NS có khả năng phân giải mạnh protein thường gặp thuộc các chi Penicillium, Aspergillus…
Protease NS thường được dùng nhiều trong sản xuất nước chấm, sản xuất bánh mì, bánh quy
….[8], [10],[20].
Enzym amylase: Xúc tác q trình phân giải glycogen và các polysacarit thành đường
glucose. Nhiều loại NS có khả năng sinh amylase. Tổ chức phức hệ enzym amylase của NS gồm α
amylase, γ amylase (glucoamylase), α- glucozidaza (mantaza) và dextrinaza sẽ cắt đứt các liên kết
α- 1,4- glucoside và α- 1,6 glucoside trong phân tử tinh bột, glycogen và các polysacarit tạo ra sản
phẩm cuối cùng là glucose. NS có khả năng phân giải tinh bột nhanh chóng là các chủng thuộc chi
Penicillium, Aspergillus, Trichoderma Rhizopus, Mucor,… Amylase được dùng trong sản xuất siro,
sản xuất bia, bánh mì, cồn, nước tương, nước chấm, …[20], [21].
Enzym kitinase: Kitinase phân giải kitin, kitin là các biopolyme chứa các gốc N- acetyl-
glucozamin liên kết với nhau bởi mối liên kết β- 1,4- glucoside. Trong RNM, lượng kitin trong vỏ
tơm, cua, ốc …rất nhiều. NS thuộc chi Trichoderma, Chaetominum,… sinh enzym kitinase phân
giải kitin, đồng thời tăng cường hiệu quả tiêu diệt các lồi nấm gây bệnh có thành tế bào là kitin,
chống các lồi cơn trùng có vỏ kitin.
Như vậy, NS còn có vai trò làm tác nhân kiểm sốt sinh học chống các VSV gây bệnh và cơn
trùng có hại trong nơng – lâm – ngư – nghiệp [16].
Các chủng NS thuộc các chi Acremoium, Penicillium, Aspergillus còn có khả năng sinh
enzym phân giải dầu mỏ là hợp chất có cấu tạo phức tạp và khó phân giải, góp phần xử lí ơ nhiễm
dầu. Đặc biệt là ở RNM Cần Giờ, các lồi NS có khả năng phân giải dầu sẽ sử dụng dầu như nguồn
thức ăn và bảo vệ MT ở đó.
Khả năng sinh kháng sinh của NS.
KS là một trường hợp riêng biệt của tính đối kháng, là hiện tượng một VSV với sản phẩm
trao đổi chất của mình có tác dụng kìm hãm hoặc ức chế sự phát triển của VSV khác.
Các chất KS có nguồn gốc từ NS chiếm tỉ lệ khá lớn, đa số thuộc lớp nấm bất tồn. Chất KS
được sử dụng chủ yếu trong y học như: Cephaco- sporin- C, Griseofluvin, Penicillin là một thứ vũ
khí chống lại các vi khuẩn gây bệnh viêm màng não, bệnh viêm màng phổi, bạch hầu, uốn ván…
Trong phẫu thuật , KS dùng để chữa các bệnh nhiễm trùng vết thương.
Chất KS được sinh ra nếu kết hợp với các enzym thủy phân protein là một trong những
phương thức có nhiều triển vọng nâng cao hiệu quả điều trị của KS. Những vấn đề về chất kháng có
nguồn gốc từ VSV của RNM đang được quan tâm nghiên cứu hàng đầu và ứng dụng mạnh mẽ
trong nhiều lĩnh vực hiện nay [14].
Khả năng sinh các axit hữu cơ và các chất kích thích sinh trưởng.
Ngày nay, nhu cầu sử dụng axit hữu cơ từ VSV ngày càng nhiều. Các axit hữu cơ như axit
acetic, axit lactic và một số axit hữu cơ khác được ứng dụng nhiều trong cơng nghệ chế biến mủ
cao su, trong cơng nghiệp nhẹ và cả trong y học. Năm 2004, Võ Thị Hạnh đã nghiên cứu sản xuất
axit citric bằng A. niger từ rỉ đường mía và bã khoai mì. Ngồi ra, các nhà khoa học Nhật Bản
tổng hợp được chất kích thích sinh trưởng Giberelin từ hai chủng F. monoforme và F. oxysporum
[19], [20]
1.2.5 Tình hình nghiên cứu nấm sợi RNM trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay, có khoảng 800 - 1000 lồi nấm biển được định loại (Hawkswworth et al., 1995;
Jones, 1995), trong khi đó có một số lượng lớn các lồi nấm trên đất liền đã được phân loại. Sự hiểu
biết của lồi người về nấm RNM và vai trò của chúng đối với khu HST này còn q ít và chưa đầy
đủ (Agate A.D., Subramania, C.V và Anuci, V.1998). Sự nghiên cứu về nấm RNM mới chỉ được
các nhà nấm học quan tâm từ năm 1950.
Theo cơ sở dữ liệu (chưa đầy đủ) của mạng nấm RNM tồn cầu có thể thấy nhiều nước đã và
đang tích cực nghiên cứu phân loại và hệ thống hố các lồi nấm biển có mặt ở vùng RNM của họ.
Cụ thể: Ấn Độ đã phân loại được 170 lồi, Hồng Kơng: 170 lồi, Đài Loan: 7 lồi, Trung Quốc: 2
lồi, Singapore: 116 lồi, Nhật: 26 lồi, Úc: 67 lồi, Mỹ: 18 lồi, Malaysia: 164 lồi, Indonesia: 7
lồi, Thái Lan: 83 lồi, Brasil: 48 lồi, Mexico: 94 lồi, Kuwait: 14 lồi, Đức: 4 lồi. Qua đó, có thể
thấy phân loại nấm biển RNM còn rất ít và chưa đáp ứng đủ u cầu cấp bách cho sự tiến bộ của
ngành VSV học [35].
Năm 1988, Agate A.D, Subramania C.V và Vanuci M đã nêu ra tám lĩnh vực nghiên cứu
cấp bách của VSV học RNM cần được các nhà khoa học giải quyết. Trong đó, có lĩnh vực phân loại
và hệ thống hố cơ bản các lồi VSV của RNM trên thế giới.
Năm 1979, Kohlmeyer là người đầu tiên đánh giá vai trò quan trọng của các nấm đối với các
chu trình tuần hồn vật chất trong hệ sinh thái RNM. Ơng đã nhận dạng được 43 lồi nấm bậc cao,
bao gồm 23 lồi thuộc Ascomycetes, 17 lồi thuộc Deuteromycetes và 3 lồi thuộc Basidiomycetes.
Năm 1990, Hyde đã liệt kê 120 lồi nấm RNM trên tồn thế giới. Trong đó, bao gồm 87 lồi
thuộc Ascomycetes, 31 lồi thuộc Deuteromycetes và 2 lồi thuộc Basidiomycetes.
Những nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra một số lượng lớn lồi mới, thậm chí là chi mới.
Bộ sưu tập nấm RNM ở Macau và Hồng Kơng tìm được 45 lồi mới, 28 lồi trong số mới này tìm
được ở Macau và 21 lồi được tìm thấy ở Hồng Kơng (Vrijmoed et al., 1994)
Năm 1990, Sivakumar và Kathiresan đã phân lập được 10 lồi nấm từ bề mặt lá của 7 lồi
cây ngập mặn. Trong số đó, lồi chiếm ưu thế trên bề mặt lá là các lồi Alternaria alternate,
Rhizopus nigricans, Aspergillus sp [41].
Một số NS còn có hoạt tính diệt cơn trùng mạnh, có thể sử dụng để sản xuất các chế phẩm
diệt cơn trùng một cách an tồn. Đây là một nguồn gen q, rất có giá trị đối với sinh học và y học
(theo Mai Thị Hằng và cộng sự ) [11].
Theo nghiên cứu của Khưu Phương Yến Anh (2007) đã phân lập, tuyển chọn các chủng NS
có hoạt tính cellulaza cao, có khả năng đường hố giấy in, giấy báo cũ, chuyển hố nhanh rơm rạ
thành mùn làm phân bón cho cây trồng. Với đặc tính này NS góp phần quan trọng giúp phân giải
xác TV ở RNM Cần Giờ [1].
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét